Hồng ban nút

   Hồng ban nút(Phước An) - Hồng ban nút (HBN) là những phát ban dạng nốt viêm bì-hạ bì cấp, thường xảy ra giới hạn ở mặt duỗi của cẳng chân, có thể có tình trạng mãn tính hoặc tái phát. HBN được xem như là một tình trạng phản ứng quá mẫn, có thể xảy ra phối hợp với nhiều bệnh lý hệ thống, do thuốc điều trị  hay không rõ nguyên nhân. Phản ứng viêm xảy ra sâu đến lớp hạ bì, trong mô mỡ.

I. Sinh lý bệnh lý

    HBN là một dạng phản ứng quá mẫn chậm đối với nhiều loại kháng nguyên khác nhau; các phức hợp miễn dịch lưu hành thường không tìm thấy được trong các dạng không rõ nguyên nhân hay không có biến chứng. Tuy nhiên, chúng có thể xác đinh được trong những trường hợp bệnh viêm ruột Bowen (Inflammatory Bowel Disease - IBD).

II. Dịch tễ học

   Bệnh chiếm tỉ lệ 0,024% dân số, thường xảy ra ở phái nữ, 4 lần nhiều hơn nam. Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, từ trẻ em đến trên 70 tuổi nhưng nghiều nhất trong độ tuổi 18-34. Trong đa số trường hợp, bệnh có thể được điều trị khỏi hoàn toàn và không để lại biến chứng.

   Giai đoạn phát ban của HBN bắt đầu bằng những triệu chứng giống cảm cúm: sốt, đau nhức ê ẩm toàn thân. Đau khớp có thể xảy ra, bắt đầu trước hay xuất hiện kéo dài trong suốt giai đoạn phát ban. Đa số các sang thương HBN do tình trạng nhiễm trùng có thể lành trong vòng 7 tuần nhưng bệnh chính gây ra có thể kéo dài đến 18 tuần. Ngược lại, 30% trường hợp HBN không rõ nguyên nhân có thể kéo dài đến 6 tháng.

III. Triệu chứng

Các triệu chứng xảy ra chủ yếu tập trung ở da và các khớp.

1. Sang thương da

Bắt đầu bằng những nốt đỏ sưng đau, bờ không rõ, d~2-6cm. Trong tuần đầu, sang thương cứng, căng đau nhiều. Qua tuần thứ nhì, các nốt hồng ban có thể thay đổi tính chất, biến thành 1 áp-xe nhưng không loét hay hóa mủ. Một đợt sang thương có thể tồn tại trong 2 tuần nhưng các sang thương mới tiếp tục xuất hiện liên tục trong 3-6 tuần.

Các sang thương HBN thường đặc biệt xuất hiện ở mặt trước 2 cẳng chân nhưng cũng có thể xuất hiện thêm ở những nơi khác, bắt đầu đổi từ màu đỏ tươi sang xanh, tím bầm từ tuần thứ 2 và thoái hóa nhạt màu dần, chuyển sang màu vàng, tróc vẩy, để lại vết thâm đen sau đó. Diễn tiến này xảy ra trung bình khoảng 2 tuần.

Đau nhức cẳng chân và sưng phù 2 mắt cá chân có thể tồn tại trong nhiều tuần.

2. Hạch lympho ngoại biên

Có thể phát triển do phản ứng quá mẫn của HBN. Hạch xuất hiện 1 bên thướng có trong các trường hợp do nhiễm trùng hay bệnh lý ác tính đi kèm. Hạch 2 bên thường phối hợp với bệnh lý sarcoidosis.

3-Đau khớp

Xảy ra trên 50% trường hợp HBN, thường bắt đầu trong quá trình nổi hồng ban nhưng cũng có thể xuất hiện trước đó 2-4 tuần. Các khớp sưng đỏ, căng cứng, đau nhức nhiều, đôi khi có tràn dịch khớp. Bệnh nhân có thể có cứng khớp buổi sáng. Khớp nào cũng có thể bị tấn công nhưng bệnh thường xảy ra nhiều nhất ở mắt cá chân, khớp gối, khớp cổ tay. Triệu chứng viêm màng hoạt dịch tồn tại trong vài tuần nhưng cứng khớp có thể kéo dài đến 6 tháng nhưng không có sự hủy hoại các khớp. Dịch khớp không có phản ứng tế bào và yếu tố thấp khớp RF âm tính.

IV. Nguyên nhân

- 20% trường hợp HBN không rõ nguyên nhân.

- Nguyên nhân thường gặp nhất của HBN:

     + Trẻ em:  do nhiễm vi khuẩn streptococci

     + Người lớn: do nhiễm vi khuẩn streptococci  và bệnh sarcoidosis.

 1- Nhiễm khuẩn

Streptococcal infections. Tuberculosis. Bartonella henselae (do mèo cào)

Yersinia enterocolitica: vi khuẩn gram-âm gây đau bụng tiêu chảy cấp

Mycoplasma pneumoniae. Rickettsia

Lymphogranuloma venereum.(bệnh hột xoài).

Salmonella .CampylobacterFungal infections.

Coccidioidomycosis  (San Joaquin Valley fever)

Histoplasmosis. Blastomycosis.

Mycobacterium leprae infections. HBN trong bệnh phong về lâm sàng có biểu hiện giống HBN thông thường nhưng hình ảnh mô học là leukocytoclastic vasculitis.

2- Thuốc

   Sulfonamides và các hợp chất có chứa halogen là những tác nhân quan trọng nhất có thể gây HBN. Các thuốc khác cũng thường gây nổi HBN là  sulfonylureas, thuốc viên ngừa thai, thuốc giảm đau và một vài loại kháng sinh.

3- Bệnh lý tiềm ẩn

- Bệnh đường ruột: Viêm loét đại tràng (Ulcerative colitis) và bệnh Crohn. HBN có liên quan đến các thời kỳ diễn tiến của bệnh. Trung bình, thời gian diễn tiến của bệnh Viêm loét đại tràng mãn tính xảy ra trước khi xuất hiện HBN là 5 năm và HBN được dùng để đánh giá việc điều trị Viêm loét đại tràng.    

- Bệnh Hodgkin và  lymphoma: HBN kết hợp với non-Hodgkin lymphoma  có thể có trước chẩn đoán lymphoma vài tháng. Đã có báo cáo về sự xuất hiện trước của HBN đối với sự bùng phát của bệnh bạch cầu cấp dòng tủy (acute myelogenous leukemia)

- Sarcoidosis: Biểu hiện ngoài da thường gặp nhất của sarcoidosis là HBN. Dạng đặc biệt của sarcoidosis cấp gồm các triệu chứng: HBN, sốt, đau khớp hạch ngoại biên, viêm màng bồ đào; gọi là hội chứng Lofgren .

- Thai kỳ:  Một số bệnh nhân có thể bị nổi HBN trong thai kỳ, đa số vào tam cá nguyệt thứ nhì. HBN có thể tái xuất hiện sau thai kỳ hay khi dùng thuốc viên ngừa thai.

- Bệnh Behçet. Erysipelas. Erythema Induratum (Nodular Vasculitis)

- Côn trùng cắn.  Mề đay. Thrombophlebitis

V. Cận lâm sàng

- Cấy bệnh phẩm cổ họng tìm vi khuẩn streptococcus beta-hemolytic nhóm A.

- VS – Antistreptolysin – Xét nghiệm phân loại trừ nhiễm Yersinia, Salmonella, Campylobacter. IDR phân biệt lao và  coccidioidomycosis.

- Cấy máu. Chẩn đoán hình ảnh ( theo dõi lao phổi, sarcoidosis, hạch)

- Sinh thiết da, Giải phẫu bệnh lý HBN: Hình ảnh viêm vách mô mỡ, viêm quanh mạch máu tẩm nhuận tế bào lympho. Lớp mô mỡ dưới da bị dầy  nhiều. Khi sang thương phát triển nhiều sẽ có hiện tượng xơ hóa quanh vách lớp mô mỡ, xuất hiện thêm tế bào khổng lồ và mô hạt. Mô hạt Miescher là tiêu chuẩn đặc biệt của HBN. Có sự tẩm nhuận tế bào lymphohistiocytictrong lớp septum và các mao mạch vừa và nhỏ.

VI. Điều trị

Trong đa số trường hợp, bệnh lý HBN thường tự giới hạn, chỉ cần điều trị bằng cách giảm nhẹ các triệu chứng gây khó chịu cho bệnh nhân với các thuốc kháng viêm không chứa steroids NSAIDs (acetyl salicylic acid, ibuprofen, naproxen, indomethacin), đắp gạc ướt-lạnh, nghỉ ngơi, nâng thể trạng.

Colchicine có thể có tác dụng tốt trong các trường hợp HBN khó điều trị.

Thuốc kháng giáp trạng (Antithyroid agents)  Potassium iodide có thể làm giảm các triệu chứng căng cứng sang thương, sốt, đau khớp trong vòng 24 giờ sau khi dùng và đa số sang thương sẽ thoái triển trong 10-14 ngày sau nhưng tác dụng chỉ giới hạn ở một số bệnh nhân nhạy cảm.

Corticosteroids cũng rất hiệu quả trong việc làm giảm nhẹ các triệu chứng cấp tính của HBN nhưng vấn đề chính là phải xác định được nguyên nhân để có thể áp dụng các thuốc điều trị đặc hiệu.

Lưu ý: một số thuốc dùng để điều trị các triệu chứng của HBN cũng có thể liên can đến nguyên nhân gây HBN cho các bệnh nhân mẫn cảm với thuốc.

Nếu bệnh diễn tiến cấp tính với các triệu chứng đau và sưng phù nặng, bệnh nhân cần được nghỉ ngơi tuyệt đối tại giường và phải được các  bác sĩ chuyên khoa Da Liễu + Nội tổng quát khám bệnh để xác định nguyên nhân và có chỉ định điều trị thích hợp.

HBN có thể tái phát khi bệnh nhân bị gián đoạn điều trị hay bệnh lý nhiễm trùng diễn tiến nặng thêm.

Bệnh nhân bị HBN nếu được điều trị sớm trong thời gian sang thương vừa xuất hiện sẽ có đáp ứng tốt hơn các trường hợp điều trị muộn.

VII. Theo dõi

HBN  có dự hậu tốt, là một dạng bệnh lành tính và có thể tự giới hạn. Nghỉ ngơi tại giường và hạn chế vận động là rất cần thiết trong giai đoạn cấp tính của bệnh, giúp việc điều trị nhanh chóng, hiệu quả hơn và có thể hạn chế sự bùng phát của bệnh. Tuy nhiên, sự thất bại trong việc xác định các bệnh tiềm ẩn gây HBN hay xác định các loại thuốc gây HBN có thể làm bệnh nặng thêm hay liên quan đến sự tử vong.

Gửi bình luận của bạn


Mã bảo vệ

Tạo mã bảo vệ khác

                          THÔNG TIN LIÊN HỆ     

   

    PHÒNG KHÁM ĐA KHOA PHƯỚC AN - KRÔNG PĂC 

 

  •      ĐC: 143, Giải Phóng -Thị Trấn Phước An -

           Krông Păc - Đăk Lăk .

  •    ( Gần Ngã 3 đi Krông Bông)
  •      Email : pkdkphuocan@gmail.com

 

 

Phòng khám đa khoa Phước An - Krông Păc