Chào mừng đến với Phòng Khám Phước An !

Bệnh vẩy nến

    Bệnh vẩy nếnPhước An - Vẩy nến là một bệnh da mãn tính, có tính cách miễn dịch di truyền và chưa thể chữa khỏi hoàn toàn.Yếu tố di truyền được thừa nhận, sau tác động của các yếu tố kích hoạt (stress, sang chấn tâm lý, lo âu, rượu bia, yếu tố nhiễm trùng, chấn thương, phẫu thuật, việc sử dụng một số thuốc…) thì gen gây bệnh vẩy nến sẽ bị kích hoạt và gây bệnh. Gen này nằm trên nhiễm sắc thể số 6. Bệnh không lây nhưng rất thường gặp với tỉ lệ từ 1.5% - 2% dân số thế giới

I . Các đặc điểm của bệnh vẩy nến

- Tỉ lệ mắc bệnh tương đương giữa 2 phái nam & nữ.

- Lứa tuổi mắc bệnh thay đổi từ vài tháng tuổi đến 70 tuổi. Đa số từ 12 tuổi – 40 tuổi.

- Chủng tộc: tần suất bệnh thấp ở người Tây Âu, Nhật bản, và Eskimo; rất thấp hay hiếm khi mắc bệnh ở người da đỏ Bắc Mỹ và Nam Mỹ

- Nếu cha hay mẹ bị vẩy nến thì tỉ lệ con mắc bệnh là 8%, nếu cả cha và mẹ cùng bị vẩy nến thì tỉ lệ này lên đến 41%; anh em sinh đôi cùng trứng cùng bị vẩy nến chiếm tỉ lệ 75%.

- Các yếu tố có vai trò khởi động, kích hoạt gen gây bệnh vẩy nến:

+  Căng thẳng thần kinh (stress), lo âu, chấn thương tâm lý …có liên quan đến việc phát bệnh vẩy nến hay làm bệnh vẩy nến có sẵn trở nặng thêm. Bệnh nhân vẩy nến thuộc nhóm người có loại hình thần kinh dễ bị kích động, hay lo lắng.

+  Tình trạng rối loạn chuyển hoá, rối loạn nội tiết (bệnh giảm khi có thai và tăng sau sinh đẻ).

+  Yếu tố nhiễm khuẩn: vai trò của các ổ nhiễm khuẩn khu trú có liên quan đến quá trình phát bệnh và phát triển bệnh vẩy nến (viêm mũi họng, viêm amygdale) mà chủ yếu là vai trò của liên cầu trùng streptococcus. Riêng vai trò của siêu vi trong vẩy nến vẫn chưa rõ.

+  Vẩy nến có thể bị gây ra do nhiều loại thuốc như: lithium, ức chế b, thuốc kháng sốt rét, một số thuốc kháng viêm không steroid. Đặc biệt việc dùng các thuốc loại corticosteroid (dexamethasone, prednisolone,… ) để điều trị vẩy nến có thể gây vẩy nến mủ hay đỏ da toàn thân.

+  Các chấn thương cơ học cũng có vai trò trong sự phát sinh vẩy nến với tỉ lệ 14% số trường hợp.

- Cơ chế miễn dịch của vẩy nến:

  Vẩy nến được xem như là 1 tình trạng tăng sinh quá mức của các tế bào sừng (kereatinocyte) ở thượng bì với sự ký sinh của các tế bào lympho ở lớp bì. người ta nhận thấy có rất nhiều tế bào lympho T xâm nhập vào vùng da tổn thương (tế bào T – CD4, CD8).

II. Lâm sàng

- Sang thương căn bản của vẩy nến là các hồng ban giới hạn rõ, không phẩm nhuận, hình tròn hay đa cung, tróc vẩy trắng và có thể có ngứa trong 20 – 40% các trường hợp.

- Kích thước của hồng ban vẩy nến thay đổi từ vài mm đến vài chục cm, bề mặt phủ vẩy trắng như sáp đèn cầy (vẩy nến), khu trú ở 1 vùng hay rải rác khắp da đầu, mặt, thân mình và tứ chi.

- Các vị trí thường gặp của sang thương vẩy nến: da đầu, lông mày, rìa chân tóc, cùi chỏ, đầu gối, vùng xương thiêng (xương cùng), cơ quan sinh dục, rốn, móng tay, móng chân. Đôi khi bệnh có thể phát triển toàn thân.

- Sang thương vẩy nến có thể xuất hiện ở vị trí các vùng da bị chấn thương, cọ sát như các vết gãi, vết trầy sướt, sẹo chổ tiêm chích (hiện tượng Koebner). Vẩy nến cũng có thể gây tổn thương toàn bộ các móng trong 25% trường hợp, tổn thương viêm khớp vẩy nến xảy ra khoảng 10%-30% bệnh nhân và thường ở độ tuổi từ 30 đến 50 tuổi.

III. Chẩn đoán

   Vẩy nến được chẩn đoán chủ yếu dựa vào lâm sàng. Không có xét nghiệm đặc thù nào dùng để chẩn đoán bệnh vẩy nến.

- Bệnh nhẹ khi dưới 2% da bị ảnh hưởng; trung bình khi 3% đến 10%  da có dấu hiệu bệnh và nặng khi sang thương vẩy nến bao phủ toàn bộ da.

- Tế bào ở các vẩy tăng sinh rất mau, lớp sừng chưa kịp trương thành đã sản sinh ra thêm lớp khác nên các vẩy dính chùm đè lên nhau như các lớp của củ hành..

IV. Tiến triển

   Bệnh vẩy nến không lây, có tiến triển mạn tính với từng đợt bộc phát xen kẽ thời gian bệnh ổn định và rất khó dự đoán tiến triển. Một số trường hợp bệnh ổn định hay chỉ khu trú ở một vài vị trí. Một số trường hợp khác bệnh lan dần, có lúc giảm và lại có lúc bộc phát. Có thể có nhiều cơn bộc phát liên tục đưa đến đau khớp (vẩy nến khớp) hay đỏ da toàn thân. Bệnh có thể tiến triển mạn tính hầu như suốt đời và hiếm khi khỏi bệnh hoàn toàn. Một số trường hợp tự nhiên khỏi bệnh nhưng cũng có thể tái phát.

  Chất lượng cuộc sống bệnh nhân vẩy nến bị giảm sút và bệnh ảnh hưởng nhiều đến yếu tố thẩm mỹ, tâm lý sinh hoạt của bệnh nhân. Bệnh gây khó chịu nhất khi sang thương xuất hiện ở da đầu, bàn tay, bàn chân và vùng cơ quan sinh dục. Vẩy nến ở lòng bàn tay, lòng bàn chân gây nhiều khó khăn, trở ngại cho người bệnh trong sinh hoạt, lao động chân tay. Vẩy nến khớp ảnh hưởng đến các khớp cổ tay, cổ chân, đầu gối, thắt lưng, vùng cổ-gáy cũng ảnh hưởng rất nhiều đến mọi hoạt dộng thường nhật.

  Các biến chứng thường gặp của vẩy nến là đau khớp biến dạng khớp, chàm hoá, đỏ da toàn thân, bội nhiễm vi trùng ngoài da và hiếm gặp ung thư da.

V. Các thể lâm sàng

   Có nhiều dạng vẩy nến thay đổi tuỳ theo cách phân loại: số lượng sang thương, kích thước, sự lan rộng hay theo hình thể, theo vị trí, theo tuổi bệnh nhân.

   Ta có thể có: vẩy nến giọt, vẩy nến mảng, vẩy nến toàn thân, vẩy nến khớp, vẩy nến mủ, vẩy nến da đầu, vẩy nến móng, vẩy nến niêm mạc, vẩy nến bẩm sinh, vẩy nến trẻ em, vẩy nến đỏ da toàn thân.


VI. Điều trị

- Điều trị vẩy nến là cả một sự thách thức và đến nay vẫn còn nan giải. Mục đích chính của việc điều trị là làm sạch thương tổn bằng cách làm gián đoạn sự tăng sinh quá nhanh của lớp tế bào biểu bì.

- Có rất nhiều loại thuốc và nhiều phương pháp điều trị vẩy nến được áp dụng nhưng chưa có phương pháp nào được xem là tối ưu có thể chữa khỏi hẳn được. Tất cả chỉ mới dừng lại ở mức độ làm bệnh thuyên giảm, tạm ổn về lâm sàng, và hạn chế tái phát, phòng ngừa biến chứng.

- Cả thầy thuốc và bệnh nhân đều phải kiên nhẫn trong điều trị vẩy nến. Đối với trường hợp vẩy nến mức độ nhẹ và trung bình, việc điều trị tại chỗ bằng các loại thuốc bôi thường được áp dụng. Các dạng vẩy nến trung bình hay nặng hơn có thể phải sử dụng phương pháp điều trị bằng tia cực tím hoặc thuốc uống toàn thân.

1. Điều trị tại chỗ:

Có rất nhiều thuốc bôi được sử dụng tại chỗ để điều trị vẩy nến:

   -Các thuốc chứa corticosteroid: diprosone – diprosalic

   -Các chất tiêu sừng có chứa a.salicylique

   -Các chất khử (hắc ín): coal tar - dầu cad

   -Các dẫn xuất của vitamin D3: calcipotriol – (daivonex)

   -Các thuốc đông y: hạ khô thảo, thổ phục linh

   -Các thuốc bôi mới: tazarotine – tacrolimus.

2. Quang trị liệu

Dùng tia cực tím (UV) tác động lên lớp thượng bì và trung bì trong điều trị vẩy nến với các ưu điểm là tỉ lệ sạch thương tổn cao và thời gian khỏi bệnh nhanh, kéo dài hơn, liệu pháp quang hoá trị (PUVA) dùng Psoralène (meladinine) uống 2 giờ trước khi chiếu UVA x 3 lần/ tuần

3. Điều trị bằng thuốc uống hệ thống

- Cổ điển: Một số thuốc khá đắt và có nhiều đặc tính cũng như tác dụng phụ như cyclosporin, methotrexate – hydroxyurea – retinoid – dapsone.

- Các thuốc sinh học mới: Tác động trực tiếp lên tế bào (T) hoặc Cytokine như alefacept – efalizumab – alenerceft – rosiglitazone – tazarotene – Pimecrolimus.

Nguyên nhân của vẩy nến hiện nay được chứng minh có liên quan đến đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào và dấu ấn vủa cytoline. Vì vậy các thuốc điều chỉnh miễn dịch chọn lọc với độc tính ít hơn được xem như 1 thế hệ trị liệu mới trong việc kiểm soát và chữa lành vẩy nến.

VII. Phòng bệnh

1-Người lành

Đối với người lành việc phòng bệnh vẩy nến không có ý nghĩa nhiều vì đây không phải là bệnh truyền nhiễm. Vấn đề là người thầy thuốc nên khuyến cáo cho những người thân trong gia đình của bệnh nhân vẩy nến về việc bệnh lý có tính di truyền với tỉ lệ 8% và anh em sinh đôi cùng trứng có 75% trường hợp cùng mắc bệnh vẩy nến

2-Người bệnh vẩy nến

Việc phòng bệnh có tác dụng hạn chế việc bệnh tiến triển nặng thêm hay bệnh có thể tái phát nhanh hơn. Bệnh nhân được khuyến cáo:

- Giữ tin thần luôn thoải mái, tránh các lo âu, phiền muộn hay các sang chấn tinh thần, không thức khuya.

- Tránh dùng các chất kích thích như rượu bia, cà phê, thuốc lá, hạn chế các loại thức ăn có nhiều đường, nhiều chất béo.

- Tránh dùng các thuốc ức chế miễn dịch hệ thống như corticosteroid để điều trị bệnh vì có thể làm bệnh nặng hơn (vẩy nến mủ) hay gây đỏ da toàn thân

- Tránh các chấn thương trầy sướt ngoài da

3-Trường hợp bệnh vẩy nến có biến chứng:

Bệnh cần được nhập viện điều trị tích cực, chú ý việc tránh cứng khớp làm mất khả năng lao động.

KẾT LUẬN: Vẩy nến là một bệnh ngoài da mạn tính do phản ứng miễn dịch gây viêm, rất phổ biến, chiếm tỉ lệ từ 1.5% - 2% dân số thế giới, chưa thể chữa khỏi hoàn toàn với biểu hiện lâm sàng đa dạng và không phải luôn luôn dễ chẩn đoán.

   Bệnh không lây nhưng cần được điều trị sớm và đúng để hạn chế các biến chứng. Nguyên nhân sinh bệnh rất phức tạp nên việc điều trị bệnh cũng còn hạn chế ở mức khống chế tình trạng bệnh tự nhiên nhưng bệnh cũng thường tái phát. Các thuốc ức chế miễn dịch hiện nay tương đối có hiệu quả trong việc kiểm soát vẩy nến đến một mức độ nhất định nhưng có nhiều bất lợi như độc tính cao và dể tái phát khi ngưng điều trị. Thế hệ thuốc điều trị mới tập trung chủ yếu vào các mục tiêu chuyên biệt trong phản ứng miễn dịch qua trung gian tế bào và ít có tác dụng phụ nghiêm trọng như các thuốc cổ điển.

Menu