Nữ hóa tuyến vú

  Nữ hoá tuyến vú trẻ emPhuocan.net-   Nữ hóa tuyến vú (gynecomastia, gynaecomastia) là sự tăng sản quá mức không do khối u của mô tuyến vú ở nam giới. Nữ hóa tuyến vú (NHTV) là tình huống lâm sàng thường gặp chiếm 67% bệnh lý tuyến vú ở nam giới.


   Bệnh biểu hiện vú lớn ở một hoặc hai bên, đều hoặc không đều nhau. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi và 25% trường hợp không tìm thấy căn nguyên

1. Nguyên nhân

   Nữ hóa tuyến vú có thể sinh lý hoặc bệnh lý, nhiều khi vô căn.

 1.1 Nữ hóa tuyến vú sinh lý: gặp ở trẻ nam sơ sinh, tuổi dậy thì và lớn tuổi.
   
1.2 Nữ hóa tuyến vú bệnh lý:

Những tình trạng bệnh lý làm giảm sản xuất và hoặc giảm hoạt tính của androgen:

- Hội chứng Klinefelter

- Không tinh hoàn bẩm sinh

- Chấn thương tinh hoàn

- Xoắn tinh hoàn

- Viêm tinh hoàn do virus

- Hội chứng Kallmann

- U tuyến yên

- Những bệnh lý ác tính làm tăng hCG (ví dụ: ung thư phổi tế bào lớn, ung thư dạ dày, ung thư tế bào thận, ung thư gan...)

- Suy thận

- Cường giáp

- Suy dinh dưỡng

- Hội chứng không nhạy cảm androgen

- Hội chứng giảm 5 alpha-reductase

Những tình trạng bệnh lý làm tăng sản xuất và hoặc tăng hoạt tính của estrogen: có thể xảy ra tại tinh hoàn hoặc ngoại biên:

- Tại tinh hoàn: do bởi u tinh hoàn hoặc do sự sản xuất hCG do bởi ung thư phổi, thận, đường tiêu hóa và u tế bào mầm ngoài cơ quan sinh dục.

- Do biến đổi ở ngoại biên: có thể do bởi sự tăng hoạt động của men aromatase trong các bệnh gan mạn, suy dinh dưỡng, cường giáp, bướu tuyến thượng thận và NHTV mang tính gia đình.

Nhiều loại thuốc gây Nữ hóa tuyến vú:

- Estrogen hoặc thuốc có hoạt tính giống estrogen như diethylstilbestrol, digitalis, phytoestrogens, các loại thức ăn chứa estrogen và các loại mỹ phẩm chứa estrogen.

- Những thuốc làm tăng tổng hợp estrogen như gonadotropin, phenytoin và testosteron ngoại sinh.

- Những thuốc ức chế tổng hợp hoặc làm giảm hoạt tính của testosteron như ketoconazole, metronidazole, cisplatin, spironolactone, cimetidine, flutamide, finasteride và etomidate.

- Những thuốc tác động chưa rõ cơ chế như isonicotinic, acid hydrazide, methyldopa, busulfan, thuốc chống trầm cảm 3 vòng, diazepam, penicillamine, omeprazole, phenothiazines, thuốc ức chế canxi, thuốc ức chế men chuyển, rượu, dẫn xuất morphin.

2. Chẩn đoán

   Cần hỏi bệnh sử kỹ lưỡng để tìm nguyên nhân của Nữ hóa tuyến vú

   Chú ý độ tuổi khởi phát và thời gian bị kéo dài bao lâu.

   Hỏi về sự thay đổi kích thước vú gần đây, có đau ở vú không, có sự hiện diện dịch tiết ở núm vú không.

   Hỏi về tiền căn bị quai bị, chấn thương tinh hoàn, nghiện rượu và các thuốc đã và đang dùng.

   Chú ý bệnh sử gia đình bị Nữ hóa tuyến vú .

   Hỏi về bệnh sử rối loạn tình dục, vô sinh, suy tuyến sinh dục (rối loạn cương, giảm ham muốn, giảm sức cơ).

   Nữ hóa tuyến vú  có thể một bên, hai bên đều hay không đều, thường gặp là hai bên không đều.

3. Cận lâm sàng:

    Nếu chẩn đoán là NHTV sinh lý thì không cần làm thêm cận lâm sàng gì. Bệnh nhân cần được đánh giá lại sau 6 tháng

    Các cận lâm sàng thăm dò tùy vào hướng chẩn đoán nguyên nhân.

    Cần làm thêm các cận lâm sàng thăm dò khi:

   - Mô vú lớn hơn 4 cm.

   - Đau, khởi phát gần đây, đang tiến triển hoặc không rõ thời gian bị bao lâu.

   - Có dấu hiệu của ác tính.

Thông thường các xét nghiệm cần làm là: định lượng testosteron, estradiol, FSH, LH, Prolactin, hCG huyết tương

Xét nghiệm về chức năng gan, thận.

TSH và thyroxin tự do nếu nghi ngờ cường giáp.

Chụp nhũ ảnh khi nghi ngờ khối u ác tính, có thể làm sinh thiết nếu cần thiết.

Chụp X quang phổi để không bỏ sót các trường hợp u phổi.

Siêu âm tinh hoàn khi nghi ngờ có u tinh hoàn hoặc suy tuyến sinh dục.

4. Điều trị

   Ngoài  việc cần điều trị nguyên nhân nếu có, hầu hết các trường hợp NHTV không cần điều trị gì thêm.

   NHTV sinh lý không cần điều trị. Khoảng 90% NHTV ở tuổi dậy thì tự hết trong vòng vài tuần cho đến 3 năm. Tuy nhiên nếu mô tuyến vú tăng sản lớn hơn 4 cm thì thường không trở về kích thước bình thường
Chỉ định điều trị chuyên biệt cho phần mô tuyến vú tăng sản nếu gây đau nhiều, hoặc gây mặc cảm tâm lý và trở ngại trong sinh hoạt. Gồm có điều trị nội khoa và ngoại khoa

4.1 Điều trị nội khoa:

  Thường ít kết quả.

  Chủ yếu chỉ có tác dụng nếu được tiến hành sớm, trước 12 tháng, lúc mô tuyến còn đang tăng sinh, chưa bị thoái hóa trong và xơ hoá nhiều.
  Vì nhiều trường hợp NHTV tự hết dần nên khó đánh giá hiệu quả thực sự của điều trị.

Các thuốc thường được sử dụng là:

- Thuốc kháng estrogen: clomiphene, tamoxifen.

- Dẫn xuất testosteron: danazol.

- Thuốc ức chế men aromatase: testolacton.

4.2. Điều trị ngoại khoa:

 Khi mô vú quá lớn, khi điều trị nội khoa thất bại thì điều trị phẫu thuật để lấy đi mô tuyến vú.

 Ngoài ra còn có chỉ định cho lý do thẩm mỹ.

Gửi bình luận của bạn


Mã bảo vệ

Tạo mã bảo vệ khác

                          THÔNG TIN LIÊN HỆ     

   

    PHÒNG KHÁM ĐA KHOA PHƯỚC AN - KRÔNG PĂC 

 

  •      ĐC: 143, Giải Phóng -Thị Trấn Phước An -

           Krông Păc - Đăk Lăk .

  •    ( Gần Ngã 3 đi Krông Bông)
  •      Email : pkdkphuocan@gmail.com

 

 

Phòng khám đa khoa Phước An - Krông Păc