Chào mừng đến với Phòng Khám Phước An !

Tiểu ra máu

  Sỏi niệu quản gây ra tiểu máuPhuocan.net - Tiểu ra máu, đơn giản là có máu trong nước tiểu. Một số hiện tượng sinh lý có thể gây nước tiểu cũng có máu, chẳng hạn như bạn tập thể dục, thể thao gắng sức. Vì thế, bệnh nhân cũng không cần lo lắng quá mức. Tuy nhiên, đây cũng có thể là dấu hiệu của một bệnh

  Có hai dạng tiểu ra máu: đái máu đại thể (nhìn thấy máu trong nước tiểu bằng mắt thường) và đái máu vi thể (chỉ nhìn thấy máu dưới kính hiển vi). Thông thường, người ta luôn nghĩ rằng, chỉ có đàn ông mới thường bị mắc bệnh này, nhưng đó là quan niệm sai lầm: bất kỳ người nào, kể cả trẻ em, đều có thể bị tiểu ra máu. Giữa nam và nữ, với căn bệnh tiểu ra máu, có một số bệnh lý liên quan đến đặc thù giới tính, ví như nhiều nam giới hơn 50 tuổi có thể thỉnh thoảng bị tiểu ra máu do bệnh phì đại lành tính tuyến tiền liệt và hơn 50% phụ nữ có nhiễm khuẩn tiết niệu ít nhất một lần trong đời và có thể kèm theo tiểu ra máu.

  Khi bị tiểu ra máu, cần đến ngay phòng khám đa khoa hay các trung tâm y tế khác để được thăm khám và chữa trị kịp thời

1. Nguyên nhân

  Theo y văn, đường tiết niệu gồm 2 thận, 2 niệu quản, bàng quang và niệu đạo. Thận lấy chất thải và dịch từ máu chuyển thành nước tiểu. Nước tiểu chạy xuống bàng quang qua niệu quản và sau đó ra ngoài qua đường niệu đạo. Khi có sự rò rỉ tế bào máu từ các cơ quan của hệ tiết niệu vào nước tiểu sẽ gây tiểu ra máu. Một số nguyên nhân có thể gây tiểu ra máu như:

   Nhiễm khuẩn đường tiết niệu: thường gặp ở phụ nữ (mặc dù nam giới cũng có thể gặp) có thể xảy ra khi vi khuẩn đi vào cơ thể qua niệu đạo và nhân lên trong bàng quang. Nhiễm khuẩn thỉnh thoảng (tuy không phải là luôn luôn) có thể xảy ra sau quan hệ tình dục. Các triệu chứng có thể là đái buốt, đái rắt, nước tiểu nặng mùi…

  Nhiễm khuẩn thận (viêm thận - bể thận) có thể xảy ra khi vi khuẩn đi vào thận qua đường máu hoặc di chuyển lên từ niệu quản. Các dấu hiệu của bệnh giống như viêm bàng quang, mặc dù có thể kèm theo sốt và đau thắt lưng.

  Sỏi thận hoặc bàng quang: các chất khoáng trong nước tiểu thỉnh thoảng có thể lắng cặn, hình thành các tinh thể trên thành của thận và bàng quang. Qua thời gian, các tinh thể có thể trở thành các sỏi nhỏ và cứng. Sỏi có thể không đau và bạn có thể không biết là có sỏi cho tới khi chúng gây bít tắc hoặc di chuyển. Khi đó có thể gây cơn đau quặn thận kèm theo đái máu đại thể hoặc vi thể.

  Phì đại lành tính tuyến tiền liệt: Tuyến tiền liệt nằm ở ngay dưới bàng quang và bao quanh phần trên của niệu đạo, thường phát triển khi ở lứa tuổi trung niên. Khi tuyến phì đại, nó chèn ép vào niệu đạo, cản trở dòng tiểu gây triệu chứng đái khó, đái ngắt quãng… và có thể gây đái máu đại thể hoặc vi thể. Viêm tuyến tiền liệt cũng có thể gây triệu chứng tương tự.

  Bệnh của thận: Đái máu vi thể là triệu chứng thường gặp của bệnh viêm cầu thận.

  Ung thư: Chảy máu đường tiết niệu nhìn thấy được có thể là biểu hiện của ung thư thận, bàng quang hoặc tuyến tiền liệt tiến triển. Không may, bạn có thể không có những biểu hiện của bệnh ở giai đoạn sớm, khi mà những ung thư này có khả năng chữa tốt hơn.

  Những bệnh di truyền: Bệnh thiếu máu hồng cầu liềm có thể là nguyên nhân của máu trong nước tiểu mức độ đại thể hoặc vi thể. Hội chứng Alport (tác động vào các màng lọc của tiểu cầu thận) cũng có thể gây tiểu ra máu.

  Chấn thương thận có thể gây đái máu đại thể hoặc vi thể.

  Thuốc men: Các thuốc thường gây tiểu ra máu: aspirin, penicillin, heparin, thuốc chống ung thư cyclophosphamide.

  Tập luyện gắng sức: Cơ chế chưa hoàn toàn rõ ràng nhưng có thể do chấn thương bàng quang, mất nước, hoặc phân rã tế bào hồng cầu.

2. Chẩn đoán thế nào?

 Khi nghi ngờ tiểu ra máu ,bạn có thể đến phòng khám để được kiểm tra chính xác bằng các cận lâm sàng

 Tổng phân tích nước tiểu : để chẩn đoán chính xác có tiểu ra máu hay không?

 Siêu âm kiểm tra thận , bàng quang , tiền liệt tuyến.. để tìm nguyên nhân gây tiểu máu

 Ngoài ra có thể phối hợp X Quang bụng đứng không sửa soạn để tìm nguyên nhân do sỏi ,...


3. Có phòng được Không?

   Không thể phòng ngừa tiểu ra máu, mặc dù có thể từng bước giảm nguy cơ của một số bệnh có thể gây ra. Nếu bị nhiễm khuẩn đường tiết niệu, bạn cần uống nhiều nước, đi tiểu khi cảm thấy buồn tiểu, ngay sau khi quan hệ tình dục, rửa sạch từ trước ra sau sau khi đi tiểu và tránh các sản phẩm vệ sinh nữ giới gây kích thích để có thể giảm nguy cơ nhiễm khuẩn đường tiết niệu. Nếu bị sỏi thận, cần uống nhiều nước, hạn chế muối, đạm, thức ăn chứa oxalate (như rau bina, cây đại hoàng).

4. Điều trị bệnh như thế nào ?

Tùy theo nguyên nhân đái máu mà chọn biện pháp và thuốc điều trị thích hợp. Một số bệnh ở đường tiết niệu có thể gây đái máu.

Do chấn thương niệu đạo, chấn thương thận: Các thuốc thường dùng:

- Thuốc giảm đau: efferalgan, decolgen viên; no - spa, meteospasmyl viên; diclofenac viên, ống.

- Thuốc cầm máu: tranexamic acid (hemotran, hexamic, transamin) gồm viên nén, viên nang, ống tiêm tĩnh mạch.

- Thuốc kháng sinh nhóm fluoroquinolon hay nhóm cephalosporin theo đường uống hoặc đường tiêm truyền. Liều lượng dùng thuốc phụ thuộc vào cân nặng, tuổi, giới.

- Cần can thiệp ngoại khoa khi có chỉ định.

Do sỏi bàng quang:

- Thuốc giảm đau: no - spa uống hoặc tiêm.

- Thuốc kháng sinh: nhóm quinolon hoặc nhóm cephalosporin.

- Thuốc cầm máu: tranexamic acid uống hoặc tiêm tĩnh mạch.

- Tán sỏi nội soi khi sỏi có kích thước dưới 5cm.

- Phẫu thuật khi sỏi quá to trên 5cm.

Do u bàng quang, polyp bàng quang, thoát vị niệu quản:

- Thuốc cầm máu  uống hoặc tiêm tĩnh mạch.

- Phẫu thuật nội soi hoặc phẫu thuật mở.

Do ung thư tuyến tiền liệt: Bệnh thường gặp ở người cao tuổi với triệu chứng đái máu đại thể, siêu âm hệ tiết niệu phát hiện tuyến tiền liệt to, mặt gồ ghề, xâm lấn vào bàng quang. Xét nghiệm máu có PSA tăng. Các thuốc thường dùng:

- Thuốc cầm máu uống hoặc tiêm tĩnh mạch.

- Flutamid (fugerel) là chất chống androgen đặc hiệu. Viên nén 250mg. Thuốc có nhiều tác dụng không mong muốn nên cần được theo dõi khi sử dụng.

- Goserelin (zoladex) là một hoạt chất tổng hợp có tác dụng ức chế tuyến yên giảm nồng độ LH làm giảm testosteron trong máu.

- Phẫu thuật theo chỉ định của chuyên khoa tiết niệu.

- Phóng xạ trị liệu theo chỉ định của chuyên khoa u bướu, y học hạt nhân.

Do sỏi thận - sỏi niệu quản: Các thuốc thường dùng:

- Thuốc giảm đau, giãn niệu quản: no-spa viên hoặc ống.

- Thuốc cầm máu tranexamic acid (transamin) theo đường uống hoặc tiêm tĩnh mạch.

Do lao thận và đường tiết niệu: Lao thận là một phần của lao tiết niệu sinh dục do trực khuẩn lao gây nên. Trong lao thận thường có hội chứng bàng quang: đái dắt, đái buốt, đái máu.

Về điều trị, điều trị nguyên nhân là chính với các thuốc chống lao: rimifon, pyrazinamid, streptomycin, ethambutol, rifamycin theo phác đồ của từng nước, từng bệnh viện. Chỉ điều trị triệu chứng đái máu khi mất máu nhiều với thuốc tranexamic acid (transamin) hoặc truyền máu.

Do ung thư thận:

- Ung thư thận có thể nguyên phát hoặc thứ phát.

- Ung thư thận thường có đái máu đại thể. Chuyên môn có lời khuyên nếu người lớn tuổi bị đái máu kéo dài, bệnh trước tiên nên nghĩ tới là ung thư thận và đường tiết niệu.

- Chỉ định thuốc tranexamic acid (transamin) khi đái máu nhiều, thiếu máu.

  Do viêm cầu thận cấp, viêm cầu thận mạn, viêm cầu thận IgA chỉ điều trị nguyên nhân với các thuốc đặc hiệu theo phác đồ với các thuốc kháng sinh, corticoid, ức chế miễn dịch; không dùng thuốc cầm máu.

   Ngoài các thuốc Tây y điều trị triệu chứng và điều trị nguyên nhân trong đái máu kể trên có thể dùng các bài thuốc y học dân tộc có các vị: lá nhọ nồi, lá rau sam, lá lược vàng, hoa hòe để chữa trị chứng này.

Menu