Chào mừng đến với Phòng Khám Phước An !

U phì đại lành tính tuyến tiền liệt

  Phì đại tiền liệt tuyếnPhuocan.net -  U phì đại lành tính tuyến tiền liệt (UPĐLTTTL) là loại u lành tính, không di căn. Bệnh gặp ở những người cao tuổi. Hiện nay chưa có nhiều thống kê dịch tễ học về UPĐLTTTL.

   Theo Berry (1984), tỷ lệ người có UPĐLTTTL tăng theo lứa tuổi. Dựa vào số liệu lấy trên tử thi, Berry nhận thấy tỷ lệ có UPĐLTTTL là 20% ở tuổi 40 và tỷ lệ này tăng lên 70-80% ở độ tuổi 60-70. Các triệu chứng lâm sàng cũng có chiều hướng tăng theo tuổi thọ với mức độ khác nhau. Theo Clinte, tỷ lệ nam giới có triệu chứng vừa và nặng của UPĐLTTTL là 13% ở tuổi 40-49 và 28% ở tuổi trên 70. Khoảng 15% người có UPĐLTTTL là có biểu hiện lâm sàng. Bệnh có thể gây ra nhiều biến chứng do làm tắc đường dẫn niệu.

  2. Cơ chế bệnh sinh:

  Điều kiện để hình thành UPĐLTTTL:
     - Tinh hoàn phải có chức năng.
     - Tuổi đời trên 45 tuổi.
 
3. Dịch tễ học:
 - Tần số xuất hiện UPĐLTTTL tăng theo lứa tuổi, nhưng không có sự liên quan tới chủng tộc, chế độ ăn và thành phần xã hội.
 - Ung thư tuyến tiền liệt và UPĐLTTTL không có liên quan gì với nhau, nhưng hai bệnh này có thể cùng xuất hiện ở người cao tuổi.
 
4. Triệu chứng:

 Triệu chứng cơ năng:

 + Giai đoạn 1:
 - Là giai đoạn cơ năng, chưa có tổn thương thực thể.
 - Đái khó, phải rặn đái lâu, dòng nước tiểu yếu, thời gian bãi đái kéo dài.
 - Đái nhiều lần về đêm.

 + Giai đoạn 2:
- Đã có tổn thương thực thể.
 - Nước tiểu tồn dư trên 100ml.
 - Đái khó và đái nhiều lần tăng lên gây ảnh hưởng tới sinh hoạt và giấc ngủ.
 - Có biểu hiện của nhiễm trùng. đường tiết niệu do sự ứ đọng nước tiểu.

 + Giai đoạn 3:
 - Đã ảnh hưởng tới chức năng thận và sự thích ứng của cơ thể giảm sút nhiều.
 - Lượng nước tiểu tồn dư tăng.
 - Tình trạng nhiễm trùng đường tiết niệu nặng nề hơn.
 - Đái khó tăng lên đến lúc gần như lúc nào cũng rặn đái.
 - Có khi lại dẫn đến tình trạng nghịch lý là đái rỉ liên tục do nước tiểu tràn đầy.
 - Xuất hiện các triệu chứng của suy thận như buồn nôn, ăn chậm tiêu, mệt mỏi...

 Sự tiến triển của 3 giai đoạn này không phải lúc nào cũng theo trình tự xuất hiện, nó phụ thuộc vào các yếu tố: sự tăng trưởng của tuyến, sự thích ứng của cơ thể và cách sinh hoạt của từng người. Tuy nhiên bất cứ giai đoạn nào của bệnh, bí đái cấp tính cũng có thể xảy ra và đặt bệnh nhân trong tình trạng cấp cứu.

 Khi có các triệu chứng trên , cần được thăm khám bởi Bác sỹ.

 Triệu chứng cận lâm sàng:

 + Xét nghiệm: PSA (Prostate Specific Antigen): bình thường kháng nguyên này chỉ có trong lòng tuyến nang, trong trường hợp ung thư tuyến tiền liệt, màng đáy bị phá vỡ làm kháng nguyên này trào vào trong máu. Xét nghiệm này để phân biệt giữa UPĐLTTTL và ung thư tuyến tiền liệt.
+ Siêu âm: là khám nghiệm quan trọng, nó giúp cho theo dõi quá trình điều trị nội khoa. Siêu âm để đo khối lượng của tuyến tiền liệt và phát hiện các vùng giảm âm gặp trung ung thư tuyến tiền liệt.
 + Chụp hệ tiết niệu không chuẩn bị: để phát hiện sỏi bàng quang của hệ tiết niệu kèm theo.
 + Chụp niệu tĩnh mạch: để đánh giá chức năng và các bệnh lý kèm theo của hệ tiết niệu. Có thể thấy niệu quản dãn, niệu quản hình móc câu (dấu hiệu Marion), hình khuyết của tuyến tiền liệt.
 + Chụp niệu đạo bàng quang ngược dòng: bơm khí vào bàng quang, phương pháp này cho phép thấy được hình ảnh của tuyến tiền liệt tương đối rõ nét.
 + Soi bàng quang: phương pháp này chủ yếu để chẩn đoán phân biệt với một số bệnh cũng gây rối loạn tiểu tiện (u bàng quang, sỏi bàng quang....).
 + Đo lưu lượng dòng nước tiểu: Bình thường: 20 ml/giây. Có tắc nghẽn: dưới 16 ml/giây. Tắc nghẽn cần phải điều trị: dưới 12 ml/giây.
 + Sinh thiết: Kim sinh thiết có 2 loại: Silverman và Trocut. Xác định tổ chức của tuyến. Định lượng tỷ lệ LDH5/LDH1, nếu tỷ lệ này lớn hơn 1 phải nghĩ tới ung thư tuyến tiền liệt.

 5. Chẩn đoán:

 Chẩn đoán xác định dựa vào các yếu tố:
 - Lứa tuổi.
 - Rối loạn tiểu tiện (đặc biệt là đái khó).
 - Thăm trực tràng thấy tuyến tiền liệt to và tính chất của tuyến.
 - Chụp niệu đạo bàng quang ngược dòng.
 - Siêu âm.
 - Sinh thiết.
 - Thang điểm IPSS.

 Chẩn đoán phân biệt:

+ Phân biệt với một số nguyên nhân tại bàng quang cũng gây rối loạn tiểu tiện:
 - Bí đái do hẹp niệu đạo.
 - Xơ cứng cổ bàng quang.
 - Bàng quang thần kinh.
 
+ Phân biệt với một số bệnh lý do tuyến tiền liệt gây nên:
 - Ung thư tuyến tiền liệt.
 - áp xe, viêm tuyến tiền liệt.

6. Biến chứng và tiến triển.

- Bí đái hoàn toàn: có thể gặp bất kỳ giai đoạn nào của bệnh, đây cũng là lý do thường gặp buộc bệnh nhân phải tới viện.
- Bí đái không hoàn toàn: gặp giai đoạn 2 và giai đoạn 3 của bệnh, khi đã có nước tiểu tồn dư trong bàng quang (ngay sau khi đi tiểu, đặt thông niệu đạo nước tiểu còn trên 100 ml).
- Sỏi bàng quang: sỏi được hình thành thứ phát do sự ứ đọng nước tiểu trong bàng quang. Khi sỏi bàng quang được hình thành lại càng làm tăng các triệu chứng rối loạn tiểu tiện.
- Đái máu: UPĐLTTTL đơn thuần rất hiếm gặp biến chứng đái máu. Biến chứng này thường do đặt thông đái không đúng kỹ thuật, do nhiễm trùng, do sỏi bàng quang.
- Túi thừa bàng quang: do ứ đọng nước tiểu, bàng quang căng dãn quá mức, bàng quang mất tính chất đàn hồi.
- Nhiễm trùng đường tiết niệu: là biến chứng khó tránh, nó làm cho quá trình bệnh lý của bệnh thêm phức tạp. Các triệu chứng toàn thân và tại chỗ xuất hiện rầm rộ hơn (sốt cao, rét run, nước tiểu đục, chán ăn, mệt mỏi ...).
- Suy thận: gặp ở giai đoạn cuối của bệnh. Là kết quả ứ đọng nước tiểu kéo dài gây dãn niệu quản, dãn đài bể thận, viêm đài bể thận ngược dòng. Bệnh nhân trong tình trạng thiếu máu, buồn nôn, chán ăn, một mỏi, phù, huyết áp cao, thiểu niệu, vô niệu, hôn mê do suy thận.
 
7. Điều trị:

 Do nguyên nhân gây bệnh chưa được xác định rõ nên việc phòng bệnh thiên về ngăn ngừa các biến chứng và phát hiện giai đoạn tiến triển của bệnh để đề ra phương án điều trị thích hợp. Khuyên bệnh nhân ăn uống điều độ, tránh uống rượu, có chế độ lao động, sinh hoạt, vận động và nghỉ ngơi hợp lý, không nên ngồi, nằm lâu một chỗ gây cương tụ máu ở vùng chậu, luyện tập và vận động các cơ có chức năng điều hoà khi đi tiểu tiện và đại tiện như các cơ thành bụng, cơ hoành và các cơ tầng sinh môn, tránh các yếu tố gây viêm đường tiết niệu, ngâm nước ấm tầng sinh môn (37oC trong 20 phút).

 Điều trị nội khoa với các trường hợp nhẹ .

 Chỉ định điều trị ngoại khoa được thực hiện trong các trường hợp sau:

 + Bí đái hoàn toàn không khắc phục được sau ít nhất 1 lần rút ống thông đái.
 + Nhiễm khuẩn kéo dài, hay tái phát.
 + Đái ra máu nặng, hay tái phát do UPĐLTTTL.
 + Sỏi bàng quang.
 + Túi thừa lớn ở bàng quang.
 + Suy thận do UPĐLTTTL.
 + Các chỉ định tương đối được thực hiện khi bệnh nhân bị các bệnh nội khoa kết hợp hoặc thường xuyên mất ngủ ảnh hưởng đến công việc hàng ngày

Menu