Chào mừng đến với Phòng Khám Phước An !

Suy tĩnh mạch mạn tính

  Suy tĩnh mạch - Nguyên nhân gây chuột rút Ở Việt Nam, bệnh lý tĩnh mạch rất  thường gặp nhưng chưa thực sự có được sự chú ý của cả thầy thuốc và bệnh nhân. Cho đến nay chưa có một thống kê đầy đủ về loại bệnh này. Tuy nhiên, theo dự đoán của các chuyên gia y tế bệnh sẽ gia tăng cùng với sự phát triển của nền kinh tế và thay đổi nếp sống ở nước ta. Việc phát hiện và điều trị sớm bệnh có ý nghĩa quan trọng...

 1. Nguyên nhân gây suy tĩnh mạch

   Máu di chuyển trong lòng tĩnh mạch theo chiều từ nông vào sâu và từ dưới lên trên nhờ hệ thống van mở ra khi máu đi về trung tâm đóng lại không cho máu chảy ngược và lực hút do hoạt động của cơ hoành, sức hút của tim, áp lực âm vùng trung thất cùng lực đẩy do hoạt động của hệ thống cơ. Tùy theo vị trí và nguyên nhân của tổn thương bệnh giãn tĩnh mạch chi dưới được chia làm 4 nhóm:

   - Nhóm giãn tĩnh mạch tiên phát hay còn gọi là giãn tĩnh mạch vô căn: trong nhóm này, ban đầu các tĩnh mạch bị giãn và dài ra sau đó các van tĩnh mạch mất dần chức năng.

  - Nhóm giãn tĩnh mạch thứ phát, thường do viêm tĩnh mạch: ở nhóm này các van tĩnh mạch bị mất chức năng trước, sau đó các tĩnh mạch mới bị giãn và dài ra.

  - Giãn tĩnh mạch ở người có thai, do tác dụng của nội tiết tố sinh dục nữ và chèn ép của tử cung bị to ra khi có thai.

  - Giãn tĩnh mạch bẩm sinh, nguyên nhân do bất thường của thành tĩnh mạch làm nghẹt tĩnh mạch sâu và dò động tĩnh mạch (dạng u máu hỗn hợp).

 2. Biến chứng của giãn tĩnh mạch

  Trước tiên là các biến chứng về rối loạn huyết động học: cẳng chân bệnh nhân bị sưng to, có triệu chứng đau buốt mặt sau cẳng chân, chuột rút về đêm.

  Nặng hơn, bệnh nhân có thể bị viêm tắc tĩnh mạch, chân nóng, sưng đỏ, các tĩnh mạch nông nổi rõ và viêm cứng.

  Giai đoạn cuối cùng có thể diễn tiến đến tình trạng giãn to toàn bộ hệ tĩnh mạch, các tĩnh giãn rất lớn, ứ trệ tuần hoàn và rối loạn dinh dưỡng của da chân phía dưới gây viêm loét, nhiễm trùng rất khó điều trị.

  Cục thuyên tắc có thể tách rời khỏi thành tĩnh mạch, đi về tim và gây thuyên tắc động mạch phổi, một biến chứng rất nặng có thể đưa đến tử vong nếu không cấp cứu kịp thời.

 3. Các yếu tố nguy cơ

  - Nữ thường bị nhiều hơn nam do ảnh hưởng của nội tiết tố nữ, thai nghén , do phải đứng lâu trong một số ngành nghề đặc biệt như bán hàng, thợ dệt, do khối lượng cơ thấp hoặc dùng giày không thích hợp.

  - Tăng trọng quá mức

  - Chủng tộc có ít nhiều ảnh hưởng đến bệnh này trừ khi chúng được kết hợp với sự phát triển về kinh tế và thay đổi cách sống.

  - Thuốc ngừa thai do sử dụng nội tiết tố nên cũng là một yếu tố nguy cơ như thai nghén.

  - Phẫu thuật có thể gây ra biến chứng huyết khối tĩnh mạch và viêm tĩnh mạch nhất là những phẫu thuật vùng tiểu khung như phẫu thuật trong sản khoa và niệu khoa các thủ thuật khác như bó bột, bất động lâu trong gãy xương… tuy nhiên gần đây tầm quan trọng của yếu tố nguy cơ này đã giảm bớt.

  - Những bệnh ăn theo chế độ ăn kiêng nhiều chất bột, ít chất xơ hay bị táo bón cũng rất dễ bị giãn tĩnh mạch.

4. Các triệu chứng chính

   Các triệu chứng thường gặp nhất trong giai đoạn đầu là phù hai chi dưới đi kèm với cảm giác nặng, chuột rút về ban đêm, triệu chứng này sẽ bớt khi bệnh nhân kê chân cao buổi tối khi đi ngủ. Về sau các triệu chứng nặng dần và xuất hiện các mảng rối loạn dinh dưỡng trên da và các tĩnh mạch giãn dần, nổi ngoằn ngoèo, có thể có những đợt viêm tắc tĩnh mạch với các triệu chứng nhiễm trùng toàn thân như sốt cao, môi khô lưỡi dơ và tại chỗ tĩnh mạch bị viêm đỏ, bên trong lòng xuất hiện những cục thuyên tắc cứng…

5. Chẩn đoán suy tĩnh mạch

  Việc xác định chẩn đoán chủ yếu dựa vào khám lâm sàng bao gồm nhìn thấy những đoạn tĩnh mạch bị giãn, ngoằn ngoèo, da đổi màu, rối loạn dinh dưỡng, loét và sự xuất hiện của các u máu.

  Sờ để biết được độ cứng của phần mềm, đặc biệt là vùng trước xương chày, so sánh cả hai bên. Ngoài ra, có thể sờ thấy cả một đoạn tĩnh mạch cứng, phù nề, các cục thuyên tắc và xác định nhiệt độ của da.

  Với các thầy thuốc chuyên khoa có thể áp dụng một số thủ thuật để đánh giá tình trạng của các van tĩnh mạch hiển trong như: thủ thuật Schwarz, thủ thuật ho, thủ thuật Trendelenburg và thủ thuật Perthe.

  Cuối cùng, chẩn đoán được xác định bằng siêu âm Doppler màu mạch máu, với phương pháp này cho phép chúng ta xác định được những rối loạn huyết động học, tình trạng của các van tĩnh mạch, mức độ giãn của tĩnh mạch và các cục thuyên tắc trong lòng mạch để từ đó có thái độ điều trị đúng đắn.

6. Điều trị bệnh suy tĩnh mạch mạn tính

   - Phòng ngừa: phương pháp này nhằm chặn đứng sự  trào ngược và làm cho các lực tác động lên dòng chảy của tĩnh mạch được tốt hơn. Bao gồm: để chân cao khi nằm nghỉ, tập cơ mạnh hơn, tránh đứng hay ngồi lâu, mang vớ thun hay quấn chân bằng băng thun, sửa lại vị trí bàn chân đối với các dị tật, tránh béo phì, tập hít thở sâu, ăn chế độ có nhiều chất xơ để tránh táo bón…

  - Băng ép nhằm phục hồi áp suất chênh lệch giữa hai hệ thống tĩnh mạch nông và sâu thông qua hệ thống xuyên, giảm đường kính của lòng tĩnh mạch để tăng khả năng vận chuyển khi nghỉ ngơi cũng như khi gắng sức.

  - Điều trị nội khoa với các thuốc làm bền thành mạch như Daflon, Rutin C, Veinamitol… nhưng phần lớn chỉ có tác dụng trong giai đoạn đầu của giãn tĩnh mạch. Một số thầy thuốc chuyên khoa còn áp dụng phương pháp tiêm gây xơ tại chỗ với các thuốc làm xơ hóa lòng mạch máu.

  - Phẫu thuật với hai phương pháp chính: lấy bỏ các tĩnh mạch nông bị giãn gọi là phương pháp Stripping bằng một dụng cụ chuyên dùng cho phép rút các tĩnh mạch như chúng ta làm lòng gà và phương pháp Chivas lấy các đoạn tĩnh mạch bị giãn của hệ thống xuyên, đây là phương pháp điều trị khá triệt để có tỉ lệ tái phát thấp nhất.

  - Hiện nay người ta còn áp dụng phương pháp làm lạnh với Nitơ lỏng âm 900C để làm nghẹt lòng tĩnh mạch qua một ống thông trong lòng tĩnh mạch, tuy nhiên phương pháp này cho tỉ lệ tái phát khá cao đến 30% các trường hợp.

7. Cần phải phát hiện sớm

   Muốn điều trị có kết quả, phải phát hiện sớm bệnh khi mà suy tĩnh mạch còn ở giai đoạn 1 - 2. Việc phát hiện ra bệnh sớm, không chỉ hoàn toàn dựa vào người thầy thuốc mà mỗi người trong chúng ta phải tự mình tìm hiểu cơ thể mình để xem có bị bệnh suy dãn tĩnh mạch hay không?

  Các triệu chứng sớm của bệnh suy tĩnh mạch mạn tính thường:

  - Mỏi chân, nhất là khi đi lại hay đứng nhiều.

  - Sưng phù mắt cá chân: phù xung quanh mắt cá và thấy rõ vào buổi tối. Khi thấy sưng phù, có thể bạn đã bị dãn tĩnh mạch với biểu hiện là các đường gân xanh nổi ngoằn ngoèo trên da.

  - Chuột rút về đêm.

  - Cảm giác như có kiến bò và ngứa chân.

   Khi có các dấu hiệu trên, bản thân chúng ta hay chúng ta phải tư vấn cho những người có các triệu chứng như vậy cần đi khám ở một bác sĩ chuyên khoa về tĩnh mạch học để được cho làm siêu âm Doppler màu tĩnh mạch vì đây là một xét nghiệm về chẩn đoán hình ảnh cơ bản cho kết quả chẩn đoán chính xác nhất.

8. Lời kết

  Chúng ta phòng bệnh giãn tĩnh mạch bằng các phương pháp rất đơn giản như tránh béo phì, tránh đứng lâu, tránh táo bón và làm tăng sức bền của thành mạch máu bằng tập thể dục, ăn các thức ăn giàu vitamin nhiều chất xơ…

Menu